SỐ LƯỢT TRUY CẬP

4
7
0
8
5
8
0
Tin KHCN trong nước Thứ Hai, 21/12/2015, 09:20

Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành tôm của Bạc Liêu

Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng từ 125.767 ha năm 2010 lên 129.716 ha năm 2015, đạt 101,34% mục tiêu (tốc độ tăng bình quan hàng năm 1,34%); sản lượng nuôi trồng từ 149.281 tấn năm 2010 tăng lên 184.000 tấn năm 2015, đạt 102,22% mục tiêu (tốc độ tăng bình quân hàng năm 4,13%); trong đó sản lượng tôm từ 68.139 tấn năm 2010 tăng lên 104.500 tấn năm 2015, đạt 106,63% mục tiêu (tốc độ tăng bình quân hàng năm 8,62%); cá và thủy sản khác từ 81.142 tấn năm 2010 giảm xuống còn 79.500 tấn năm 2015, đạt 96,95% mục tiêu (tốc độ giảm bình quân hàng năm -0,41%).

 
 
Đẩy mạnh cơ giới hóa trong nuôi tôm thâm canh – bán thâm canh
THỰC TRẠNG NGÀNH TÔM HIỆN NAY
Mới đây, vào ngày 11 tháng 12 năm 2015, tại Hội thảo Tăng cường giải pháp giống và kỹ thuật nuôi tôm vùng Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam-Chi nhánh Cần Thơ phối hợp Sở Nông nghiệp và PTNT Bạc Liêu, Trung tâm xúc tiến đầu tư Thương mại và du lịch tỉnh Bạc Liêu, Ủy ban nhân dân huyện Đông Hải tổ chức tại huyện Đông Hải cũng đã đề cập đến thực trạng của ngành tôm Bạc Liêu hiện nay. Qua đó, những kết quả rất khả quan cũng đã được ghi nhận:
            1. Hiện nay, tỉnh Bạc Liêu đã xây dựng và hình thành vùng nuôi trồng thủy sản tập trung 125.000 ha (trong đó với các tiểu vùng sản xuất như: nuôi tôm thâm canh – bán thâm canh quy mô 30.000 ha, tiểu vùng tôm – lúa 30.000 ha, tôm – rừng 10.000 ha và nuôi tôm quảng canh cải tiến kết hợp 55.000 ha); nuôi nghêu, sò trên đất bãi bồi ven biển là 3.000 ha và phát triển nghề nuôi cá Chính ở những nơi có điều kiện gắn với chế biến xuất khẩu (Hồng Dân); ổn định địa bàn sản xuất muối chất lượng cao 2.600 ha gắn với nhu cầu thị trường và kết hợp với nuôi trồng thủy sản trên đất muối, nuôi Artemia.
           2. Xác định các đối tượng chủ lực cho ngành thủy sản của tỉnh là tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua biển, nhuyễn thể; từ đó có chính sách khuyến khích ứng dụng rộng rãi khoa học công nghiệp, quy trình sản xuất tiên tiến, khuyến khích áp dụng Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt, nuôi trồng thủy sản có chứng nhận (VietGAP, GlobalGAP…) và đẩy mạnh thực hiện hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản.
            3. Chủ động sản xuất giống thủy sản có chất lượng cao đối với các đối tượng nuôi chủ lực, về cơ bản giải quyết được nhu cầu tôm giống phục vụ sản xuất trong tỉnh. Hiện nay, trên đia bàn tỉnh có 175 công ty, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất giống tôm và 75 cơ sở kinh doanh tôm giống, ước lượng giống sản xuất năm 2015 đạt 18 tỷ post, đáp ứng cơ bản khoảng 100% nhu cầu về giống thả của người dân trên địa bàn tỉnh.
            4. Đẩy mạnh thực hiện tổ chức lại sản xuất để gắn kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh cơ giới hóa, hiện đại hóa nuôi trồng thủy sản. Toàn tỉnh hiện có 09 hợp tác xã nuôi trồng thủy sản (nghêu, sò, Artermia…) và 48 tổ hợp tác khai thác hải sản trên biển. Nhìn chung, các hợp tác xã, tổ hợp tác hoạt động đúng luật, tạo sự liên kết hợp tác sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.
            5. Toàn tỉnh hiện có 34 nhà máy chế biến thủy sản, công suất thiết kế 100.000 tấn thành phẩm/năm. Về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu thu mua tôm nguyên liệu do nông dân sản xuất với giá hợp lý, có lợi có người dân; đồng thời giải quyết vấn đề lao động, việc làm cho người dân nông thôn, giúp họ có thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống.
            6. Hiện nay, tỉnh cũng đã phê duyệt Quy hoạch nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 24/01/2014) và Kế hoạch thực hiện tái cơ cấu Ngành Nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững (Quyết định số 156/QĐ-UBND ngày 06/02/2014) làm cơ sở để xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể cho phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản một cách ổn định, bền vững.
            Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn một số tồn tại, hạn chế do các nguyên nhân khách quan, chủ quan như: Điều kiện kết cầu hạ tầng (điện, giao thông, thủy lợi…) chưa đáp ứng yêu cầu nuôi tôm thâm canh, tăng vụ, sản xuất sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm; việc tổ chức quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa được thực hiện nghiêm túc, sản xuất nhiều loại sản phẩm nhưng lại manh mún, chưa gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng vùng nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Năm 2015, tình hình nuôi tôm nước lợ của tỉnh Bạc Liêu diễn ra trong bối cảnh thời tiết bất lợi, nắng nóng kéo dài, mưa trái mùa, nguồn nước ô nhiễm, các thông số môi trường (nitrit, amonia, vibrio..) tại các điểm quan trắc đầu nguồn nước cấp điều vượt ngưỡng cho phép như làm cho các bệnh của đốm trắng, hoại tử gan tụy, phân trắng bùng phát trên diện rộng gây tôm chết, giảm sản lượng thu hoạch và gây thiệt hại về kinh tế cho người nuôi.
NHỮNG GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI
Trong thời gian tới, để ngành tôm phát triển bền vững, ngành Nông nghiệp và PTNT sẽ tiến hành các giải pháp đồng bộ sau đây:
            Thứ nhất, tiếp tục tổ chức thực hiện tốt quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản của tỉnh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, đồng thời gắn với hướng tái cơ cấu ngành thủy sản. Đầu tư các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng thủy lợi – thủy nông nội đồng phục vụ nuôi trồng thủy sản và sản xuất giống tại địa phương. Đề xuất Sở Công thương, ngành điện đầu tư hệ thống điện 03 pha phục vụ cho các vùng nuôi tôm thâm canh – bán thâm canh.
            Thứ hai, thực hiện tốt công tác quản lý vùng nuôi tôm nước lợ trên địa bàn tỉnh. Tuyên truyền vận động người dân nuôi tôm trên địa bàn tỉnh tuân thủ quy hoạch đã phê duyệt, không nuôi tôm chân trắng tại vùng Bắc Quốc lộ 1A. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đổi mới thiết bị, công nghệ theo hướng hiện đại, tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Xây dựng và tổ chức thực hiện nuôi tôm theo các quy định về thực hành nuôi thủy sản tốt (VietGAP, GlobalGAP…).
            Thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất, kinh doanh về thuốc, hóa chất, thức ăn, sản phẩm cải tạo môi trường kém chất lượng, sản phẩm không rõ nguồn gốc dùng trong nuôi trồng thủy sản.
            Thứ tư, tạo điều kiện cho những cơ sở sản xuất giống thủy sản đầu tư nâng cấp, mở rộng nâng cao sản lượng, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Phối hợp với các tỉnh di nhập thêm giống có chất lượng tốt đảm bảo đủ nhu cầu phục vụ sản xuất. Giám sát dịch bệnh toàn bộ các lô tôm giống, tôm bố mẹ nhập khẩu sau thời gian cách ly kiểm dịch.
            Thứ năm, thường xuyên cập nhật tình hình thời tiết, thống kê diện tích thiệt hại để kịp thời đưa ra những giải pháp khôi phục sản xuất hiệu quả. Tăng cường chỉ đạo lực lượng chuyên môn bám sát địa bàn, hướng dẫn nông dân nuôi tôm các biện pháp phòng chống dịch bệnh, khuyến cáo nhân rộng các hình thức nuôi trồng thủy sản có hiệu quả.
            Thứ sáu, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh nhằm nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm thủy sản. Đồng thời, tăng cường đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
Trần Thiện
 Chi cục NTTS Bạc Liêu
 
 

 


Số lượt người xem: 3205 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày